Monday, August 29, 2011

Vietnam Embraces an Old Enemy

By ALBERT R. HUNT

HANOI — Pham Binh Minh, whose father fought to force the United States out of Vietnam, is working fervently to elevate the interest and involvement of his country’s former enemy.
Vietnam wants a U.S. presence for economic reasons and as a balance to China, the regional superpower. Mr. Minh is the new foreign minister; his father was part of Ho Chi Minh’s Communist regime during the bitter conflict of the 1960s and 1970s; later, he was foreign minister when Vietnam clashed with China.
“One cannot imagine how fast the relationship between the United States and Vietnam has developed,” Mr. Minh, 52, said in Hanoi.
“After 16 years of normalization, we’ve come to the stage where we’ve developed the relationship in nearly all aspects.”
While the United States hasn’t fully erased the pain of that war, the Vietnamese, who suffered far more, have embraced their old adversary.
Economic ties between the nations are growing; the United States is the largest importer of Vietnamese goods.
There are regular military contacts, and this month the two countries signed their first defense pact regarding military medicine.
Last year, Vietnamese officers observed a U.S. military operation aboard a destroyer, the John S. McCain, named after two admirals, the father and grandfather of Senator John McCain, Republican of Arizona, who was a prisoner of war in Hanoi for six years.
Now, the foreign minister said, the two countries are discussing upgrading their strategic relationship to “a new level.”
That, he declared, would be “good for the stability of the region,” in accord with Vietnam’s “multilateral” approach.
None of this, the top Vietnamese diplomat insisted, is intended to counter China.
Still, talk of multilateralism and encouraging the U.S. role in the stability of the region isn’t appreciated by the Beijing regime.
Vietnam has a long history of conflict with China; the most recent outbreak was in 1979, when it turned back a cross-border incursion.
The Vietnamese know China is a superpower that isn’t going away and prefer to have good relations with the big guy next door.
Nevertheless, there are tensions, particularly over territory in the South China Sea.
Recently, there have been public protests in Vietnam against China, though the Hanoi government wants these to stop, fearing that nationalistic fervor could spiral out of control.
Common interests aside, the relationship with the United States is complicated.
Vietnam isn’t sure that the United States is committed to Asia for the long run, and officials privately complain that the region is a low priority for Washington.
In a one-hour interview with Charlie Rose, an American television host, that was broadcast July 21, President Barack Obama’s national security adviser, Thomas E. Donilon, spoke at length about China, but never mentioned Vietnam.
Mr. Minh said he’d like “more consistency” in U.S. policy, which should “pay more attention” to Southeast Asia.
More troubling is the continuing friction over Vietnamese policies on human and political rights.
Progress has been made, especially in the area of religious freedom: Senator Jim Webb, Democrat of Virginia and a Vietnam veteran, noted during a visit to Hanoi the other day that when he first attended a Catholic service in Vietnam 20 years ago there were a handful of worshipers; a few years ago, there were 2,000 people at a Christmas Mass he attended.
Still, a few dozen dissidents have been jailed over the past several years, and crackdowns on the news media are routine.
The record is better than China’s.
The realpolitik, however, is that with about 90 million people and a gross domestic product of $102 billion, Vietnam is treated differently than the colossus China.
Yet U.S. policy makers, who worry about the aggressiveness of an increasingly confident China, want deeper alliances with Vietnam.
They look to a younger generation epitomized by Foreign Minister Minh, who remembers that as a teenager he would dash “to the shelters when the bombs were dropped.”
As an adult, he received a graduate degree at Tufts University’s Fletcher School of Law and Diplomacy in Massachusetts and spent several years at the United Nations in New York and at the Vietnamese Embassy in Washington.
The depth of the association in the years ahead depends on the evolution of Vietnam’s economic, legal and political system.
There have been striking gains since the Communists opened the system to private enterprise more than two decades ago.
Per capita income is about $1,200, almost 10 times what it was more than a quarter century ago; the country has fully joined the global economic community.
U.S. foreign investment is $10 billion, small but growing rapidly.
Companies like Intel and Chevron are making major investments.
The economy, however, is still driven largely by inexpensive labor.
The Communist Party bureaucracy stifles the entrepreneurial spirit.
Corruption is rampant.
Though he said that it was a “top priority” of the regime, Mr. Minh admitted that reducing corruption “is hard.”
Paradoxes persist: Internet use per capita is among the highest in the region and the illiteracy rate is relatively low; yet the educational system is inferior.
One of the few jewels is the small public-policy center based in Ho Chi Minh City that is affiliated with Harvard University’s John F. Kennedy School of Government.
This is part of Harvard’s Vietnam program, directed by Tom Vallely, a veteran who has spent much of his life since the war trying to improve U.S.-Vietnam relations.
A few years ago, the center published a study on the challenges facing Vietnam.
It concluded that the hallmarks of the successful East Asian economies of Singapore, South Korea and Taiwan — transparency, little corruption, first-class health and education systems and a viable legal structure — all are lacking in Vietnam.
“Countries that compete on the basis of cheap labor cannot, by definition, move beyond lower-income status,” it said.
Younger leaders like the foreign minister face daunting challenges.
Among the biggest: walking the delicate line between maintaining decent relations with the superpower next door and strengthening ties with Washington; and dramatically curbing corruption and changing an educational system the Harvard study described as abysmal.
That raises an interesting possibility, one the foreign minister said he would welcome: Harvard, the institution that produced many of the architects of the U.S. involvement in the Vietnam War, could take the lead in creating a first-class Vietnamese university.


Việt Nam chào đón kẻ thù cũ
Albert R. Hunt (Nguyễn Trùng Dương dịch)
Hà Nội – Phạm Bình Minh có người cha đã chiến đấu đánh đuổi Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam, hiện đang làm việc hết mình, nhằm nâng cao sự chú ý và sự tham gia của đất nước, từng được xem là cựu thù với đất nước ông.
Việt Nam muốn có sự hiện diện của Hoa Kỳ vì lý do kinh tế cũng như một sự cân bằng đối với Trung Quốc, siêu cường trong khu vực. Ông Minh là Bộ trưởng Ngoại giao mới; cha của ông (tức cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, là người được cho là có quan điểm chống Trung Quốc mạnh mẽ sau năm 1975, khi quan hệ Việt – Trung căng thẳng – ND) là thành viên trong chính phủ cộng sản của ông Hồ Chí Minh, trong thời kỳ xung đột khốc liệt hồi thập niên 1960 và 1970. Sau đó, ông trở thành Bộ trưởng Ngoại giao khi Việt Nam mâu thuẫn với Trung Quốc.
Mọi người không thể tưởng tượng nổi mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã phát triển nhanh như thế nào. Sau 16 năm bình thường hóa quan hệ [giữa hai nước], chúng tôi đi đến giai đoạn phát triển mối quan hệ gần như trên tất cả mọi lĩnh vực“. Ông Minh, 52 tuổi đã phát biểu như vậy tại Hà Nội.
Trong khi Hoa Kỳ chưa hoàn toàn xóa hẳn nỗi đau chiến tranh, thì người Việt là những người bị chịu tổn thất lớn hơn [trong cuộc chiến] đã hoan nghênh những cựu thù của họ.
Quan hệ kinh tế giữa hai nước đang phát triển; Hoa Kỳ là nước nhập khẩu hàng hóa Việt Nam lớn nhất. Hai nước có các mối quan hệ quân sự thường xuyên và trong tháng này đã ký một hiệp định quốc phòng đầu tiên về quân y. Năm ngoái, quan chức Việt Nam quan sát các cuộc diễn tập quân sự của Hoa Kỳ trên chiến hạm John S. McCain, đây là chiến hạm được lấy tên từ hai đô đốc, cha và ông nội của Thượng Nghị sĩ John McCain, thuộc đảng Công Hòa, bang Arizona, và là tù nhân chiến tranh ở Hà Nội suốt 6 năm.
Giờ đây, ông Bộ trưởng Ngoại giao nói rằng, 2 nước đang thảo luận để nâng cao mối quan hệ chiến lược lên “tầm cao mới“. Ông ấy tuyên bố rằng, điều này sẽ là “điều tốt đẹp cho sự ổn định trong khu vực”, phù hợp với chủ trương “đa phương” của Việt Nam.
Người đứng đầu cơ quan ngoại giao Việt Nam khẳng định rằng, không có điều gì [trong mối quan hệ Việt – Mỹ] nhằm mục đích chống lại Trung Quốc. Tuy vậy, [Việt Nam] nói đến đa phương và khuyến khích vai trò của Hoa Kỳ trong khu vực là điều mà chế độ Bắc Kinh không hoan nghênh.
Việt Nam có lịch sử xung đột lâu dài với Trung Quốc; lần gần đây nhất vào năm 1979, khi Việt nam đẩy lùi sự xâm nhập của Trung Quốc tràn qua biên giới. Người Việt biết Trung Quốc sẽ vẫn là một siêu cường lâu dài và cũng muốn có một quan hệ tốt với gã hàng xóm láng giềng to xác ngay sát vách.
Tuy nhiên, [giữa Việt Nam và Trung Quốc] đã xảy ra căng thẳng, đặc biệt là vấn đề chủ quyền ở biển Đông. Gần đây, đã có các cuộc biểu tình ở Việt Nam chống Trung Quốc, mặc dù chính quyền Hà Nội muốn các cuộc biểu tình đó chấm dứt, lo ngại rằng điều này sẽ kích động tinh thần dân tộc và có thể gia tăng đến mức vuột khỏi tầm kiểm soát [của chính quyền].
Ngoài các quyền lợi chung, quan hệ [của Việt Nam] với Hoa Kỳ là [một vấn đề] phức tạp.
Việt Nam không chắc Hoa Kỳ sẽ cam kết lâu dài với Châu Á, và các quan chức đã phàn nàn một cách kín đáo, rằng khu vực này có mức độ ưu tiên thấp đối với Washington. Trong một cuộc phỏng vấn dài một tiếng đồng hồ với Charlie Rose, là người dẫn chương trình truyền hình của Mỹ, phát hôm 21 tháng 7, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Obama, ông Thomas E. Donilon đã nói rất nhiều về Trung Quốc, nhưng không hề nhắc đến Việt Nam.
Ông Minh nói rằng ông muốn “có sự nhất quán hơn nữa” trong chính sách của Mỹ, và nên “chú ý hơn” đến Ðông Nam Á. Ðiều phiền toái hơn nữa là sự va chạm vẫn còn tiếp diễn [trong quan hệ hai nước] về các chính sách của Việt Nam về các vấn đề nhân quyền, cũng như các quyền chính trị.
Tiến bộ cũng đã đạt được, đặc biệt trong lĩnh vực tự do tôn giáo. Thượng Nghị sĩ thuộc đảng Dân Chủ, bang Virginia, ông Jim Webb và cũng là một cựu chiến binh Việt Nam, cho biết, trong chuyến thăm Hà Nội trước đây, lần đầu tiên ông dự lễ nhà thờ Thiên chúa giáo 20 năm trước, chỉ có một vài giáo dân dự lễ cầu nguyện; nhưng cách nay vài năm khi ông dự lễ Giáng Sinh đã có khoảng 2.000 người. Tuy nhiên, vài chục người bất đồng chính kiến đã bị bỏ tù trong nhiều năm qua, và tin tức trên phương diện truyền thông về các cuộc đàn áp vẫn thường xuyên xảy ra.  
Hồ sơ về vấn đề này thì tốt hơn so với hồ sơ Trung Quốc. Tuy vậy, thực tế về mặt chính trị là với dân số khoảng 90 triệu người và tổng sản phẩm quốc nội khoảng 102 tỷ đô la, Việt Nam bị đối xử khác hẳn với gã khổng lồ Trung Quốc.
Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ, những người lo ngại về sự hiếu chiến của Trung Quốc, một nước ngày càng gia tăng sự tự tin, muốn có một mối liên minh sâu đậm hơn với Việt Nam. Họ nhìn thấy một thế hệ lãnh đạo trẻ hơn, là hình ảnh thu nhỏ của Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, là người vẫn còn nhớ rằng lúc còn thiếu thời ông ấy đã “lao xuống hầm trú ẩn khi bom [Mỹ] được thả xuống“. Sau này khi trưởng thành, ông đã tốt nghiệp cao học tại Trường Luật của Ðại học Tufts ở bang Massachusetts và đã làm việc vài năm cho Liên Hiệp quốc ở New York, và Đại Sứ quán Việt Nam ở Washington.
Mối liên kết sâu sắc trong nhiều năm sắp tới phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, hệ thống chính trị và luật pháp của Việt Nam. Ðã có một sự tăng trưởng đáng ngạc nhiên kể từ khi Ðảng Cộng sản mở cửa hệ thống [kinh tế], cho các thành phần kinh tế tư  nhân phát triển hơn 20 năm trước. Thu nhập đầu người là 1.200 đô la, gấp mười lần so với khoảng một phần tư thế kỷ trước đây; đất nước đã hoàn toàn hội nhập công đồng kinh tế toàn cầu. Ðầu tư nước ngoài của Hoa Kỳ đạt 10 tỷ đô la, một con số tuy nhỏ nhưng gia tăng một cách nhanh chóng. Các công ty như Intel, Chevron đang đầu tư lớn ở đây.
Tuy vậy, nền kinh tế vẫn đang được dẫn dắt chủ yếu bởi nguồn lao động rẻ. Thói quan liêu, cửa quyền của Ðảng Cộng sản đã bóp nghẹt tinh thần làm ăn của các doanh nghiệp. Nạn tham nhũng tràn lan không thể kiềm chế được. Mặc dù nói đó là các vấn đề “ưu tiên hàng đầu” của chế độ, nhưng ông Minh cũng thừa nhận, để giảm bớt tham nhũng thì “khó khăn“.
Nghịch lý vẫn dai dẳng kéo dài: số người sử dụng internet [trên đầu người ở Việt Nam] thuộc vào hàng cao nhất trong khu vực và tỷ lệ thất học tương đối thấp; tuy nhiên, hệ thống giáo dục còn thấp kém.
Một trong những vấn đề quí hiếm [ở Việt Nam] là có một trung tâm nhỏ [nghiên cứu] về chính sách công, có trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh, liên kết với Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy, thuộc Ðại học Harvard. Ðây là một phần trong chương trình Việt Nam của Ðại Học Harvard, do Tom Valley điều hành, ông là một cựu chiến binh, đã dành phần lớn thời gian trong đời mình kể từ khi cuộc chiến [kết thúc], cố gắng cải thiện mối quan hệ Mỹ – Việt.
Vài năm trước, trung tâm này đã công bố một nghiên cứu về các thách thức mà Việt Nam phải đối mặt. Bản nghiên cứu kết luận rằng các tiêu chuẩn về sự thành công của các nền kinh tế ở Nam Á như Singapore, Nam Hàn và Ðài Loan, đó là sự minh bạch, ít tham nhũng, có hệ thống giáo dục và y tế hàng đầu và cấu trúc luật pháp có thể tồn tại vững chắc  – tất cả những điều đó hiện còn thiếu ở Việt Nam.
Những nước cạnh tranh dựa trên yếu tố lao động rẻ, không thể nào vượt quá tình trạng thu nhập thấp, theo đúng định nghĩa [lao động rẻ]”, nghiên cứu cho biết.
Các lãnh đạo trẻ, như vị Bộ trưởng Ngoại giao này, phải đối mặt với những thách thức đáng ngại.
Trong số những thách thức lớn nhất: tiến hành những bước đi tế nhị trong việc duy trì các mối quan hệ tử tế với cường quốc láng giềng và đẩy mạnh các mối quan hệ với Washington; hạn chế tối thiểu nạn tham nhũng và thay đổi hệ thống giáo dục mà công trình nghiên cứu của Ðại Học Harvard mô tả, là vô cùng khó khăn.
Chính điều này đã nảy sinh một khả năng thú vị, điều mà ông Bộ trưởng Ngọai giao nói rằng ông sẽ chào đón trường Harvard, học viện đã tạo ra nhiều kiến trúc sư cho sự tham gia của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam (ý nói trường Harvard đã đào tạo ra nhiều nhân vật chính trong cuộc chiến tranh – ND), có thể sẽ dẫn đầu trong việc tạo ra một trường đại học hàng đầu ở Việt Nam.

Sunday, August 14, 2011

Phở

By Caroline Russock

Some people go straight for the chicken noodle when they are sick, but when I feel under-the-weather, only one soup inevitably makes me feel better.
No matter how bad I'm feeling I can usually manage to get myself to the nearest Vietnamese restaurant, if only to get my phở to-go.
It's the ideal mix of savory, herbal, spicy, and hearty, and never fails to improve whatever is ailing me.
Aside from being my go-to cure-all, phở is the ultimate customizable soup—broth and rice noodles are a given but the rest of the dish is entirely up to you.
Choose your cuts of meat, meatballs, or a selection of offal, and then when your bowl arrives, you can customize it even further with basil, bean sprouts, cilantro, limes, chiles, chili sauce, plum sauce, vinegar—really the possibilities are endless.
But for all of my phở enjoyment, I've never ventured to make it at home.
The complexity of the broth paired with my total lack of Vietnamese cooking skills landed this soup pretty low on my priorities list.
Thankfully The Best Soups in the World by Clifford A. Wright included a recipe for a homemade version of phở.
The recipe confirmed my feelings: the majority of the work is making the broth.
After reading Wright's instructions, I realized this broth wasn't all that different from making any other stock: meaty bones and aromatic vegetables and spices, simmered long and low.
In other words, something that I could handle.
I made a pilgrimage to my nearest Asian market and returned home with pounds of beef soup bones and chicken wings.
I made a pilgrimage to my nearest Asian market and returned home with pounds of beef soup bones and chicken wings.
I dusted off the old lobster pot—it was the only one that could handle all of the ingredients—and began my phở broth.
The process was easy: onions browned and then removed, meat and water added and boiled, then the rest of the aromatics go in, skimmed occasionally and simmered for six hours.
By the time the broth was finished it was incredibly phở-like—the cinnamon and anise came through beautifully and the stock was insanely meaty.
The next day I took off the layer of fat and set about assembling the rest of the phở ingredients. I got my hands on lovely basil, bean sprouts, and some shabu-shabu beef.
With the noodles soaked and the broth boiling, I set out all of the phở garnishes and tucked in.
The broth was wonderful: warm and spiced with the perfect slick of fat on top and hot enough to cook but not overcook the meat.
Along with all of the accompaniments this was a pretty great home approximation of phở.
Next time I might go heavier on the beef bones and lighter on the chicken, and be a bit more generous with the salt, but I was quite happy with the results.
This phở might not be quite as nuanced as the restaurant version but it's still entirely satisfying.
On a cold winter night it was an absolute joy to eat.

INGREDIENTS (serves 8)
For the Broth
1 tablespoon peanut oil
2 large onions, cut into 1/4-inch slices
2 1/2 pounds meaty beef soup bones
2 1/2 pounds cooked chicken carcass or chicken wings, backbone, and/or feet
5 quarts water
2 carrots, peeled and julienned
4 slices fresh ginger, peeled and julienned
1 small cinnamon stick
Seeds from 5 pods cardamom, lightly crushed
2 star anise
2 whole cloves
2 whole garlic cloves, crushed with their peel left on
1 teaspoon black peppercorns
For the Soup
1/2 pound beef sirloin, sliced very thin across the grain in bite-size pieces
Salt and freshly ground black pepper
1 large onion, sliced as thin as paper
2 scallions, trimmed and thinly sliced
2 cups (1/2 pound) fresh bean sprouts
6 tablespoons chopped cilantro (fresh coriander) leaves
4 fresh red or green serrano chiles, seeded and sliced in rings or julienned
2 limes, quartered
6 to 8 ounces rice sticks (thin rice noodles), soaked in hot water for 30 minutes, drained
1/4 cup Vietnamese or Thai (nuoc mam or nam pla) fish sauce or more to taste

PROCEDURES
1. The day before you plan to serve the soup, in a large stockpot, heat the peanut oil over high heat, then add the sliced onions and cook until browned on the edges, 8 to 10 minutes.
Remove the onions and set aside.

2. Place the beef and chicken pieces in the stockpot and cover with the water.
Bring to a near boil over medium heat, then reduce the heat to low and simmer, skimming the surface foam, for 15 minutes.
Add the reserved cooked onion slices and the carrots, ginger, cinnamon, cardamom, star anise, cloves, garlic, and peppercorns.
Bring to a boil over high heat, then reduce to low and simmer, partially covered, for 6 hours, skimming the surface of foam when needed.
Strain the stock through a strainer into a large bowl.
Strain again through a cheesecloth-lined strainer back into the cleaned stockpot or bowl.
Refrigerate overnight or until the layer of fat forms on top, then remove and discard the fat.
You will use 12 cups of broth. (The broth can be frozen at this point if you wish.)

3. When you are ready to serve, attractively arrange the sliced beef sirloin, seasoned with salt and pepper, on a platter and garnish the platter with the paper-thin-sliced onion and scallions. On another platter or plate, attractively arrange the bean sprouts, cilantro, chiles, and limes.

4. Thirty minutes before you want to serve the soup, bring a pot of water to a boil over high heat.
Turn off the heat, then add the rice sticks and let sit for 30 minutes.
Drain the rice noodles and place equal portions in each of the 8 soup bowls.
Cover and keep warm.

5. Meanwhile, bring the beef broth to a boil over high heat and add the fish sauce and 1 teaspoon of black pepper; taste and add more broth if necessary.
Pour the broth into a chafing dish or soup tureen and place over a portable warmer to keep hot in the center of the table for diners to serve themselves.
Serve the soup, allowing each diner to add some beef and onion to a bowl.
Ladle hot broth over the meat, stirring to cook the meat. Add the bean sprouts, cilantro, chiles, and a squeeze of lime to taste.

Một tí hương vị Việt Nam


Created with Admarket's flickrSLiDR.

Wednesday, August 10, 2011

Chân dung người Mỹ gốc Việt qua Census 2010



* Hoa Kỳ có 1,548,449 người gốc Việt
Tài liệu chính thức của Census 2010, vừa được công bố, cho thấy một cộng đồng gốc Việt năng động, trẻ hơn tuổi trung bình toàn quốc, và lớn hàng thứ tư trong số di dân gốc Á tại Hoa Kỳ. Mặc dầu tốc độ gia tăng dân số gốc Việt chậm lại trong 10 năm qua, cộng đồng chúng ta “nói tiếng Việt ở nhà” nhiều hơn các sắc dân khác. Trong 10 năm, dân số gốc Việt tăng gần nửa triệu người, và ngay tại thời điểm này, tổng số người mang họ Việt Nam tại Hoa Kỳ là: 1,548,449
Hà Giang/Người Việt
WESTMINSTER -Cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ có tổng cộng 1,548,449 người, theo công bố chính thức của thống kê dân số 2010 (Census 2010).
Description:
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/135439-chart_06-400.jpg
10 quận có cộng đồng gốc Việt lớn nhất Hoa Kỳ, theo thống kê dân số Census 2010. Cả 3 quận đứng đầu đều thuộc về tiểu bang California. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)
Như vậy, trong vòng một thập niên, từ năm 2000 đến 2010, cộng đồng gốc Việt tại Hoa Kỳ tăng thêm 425,921 người, tương đương 38%. Và cộng đồng chúng ta trở thành sắc dân châu Á đông thứ tư tại Hoa Kỳ, sau Trung Quốc (gần 3.5 triệu), Ấn Ðộ (gần 3 triệu) và Philippines (2.5 triệu).

Dân Số Gốc Á tại Hoa Kỳ
Trung Quốc: 3,347,229
Ấn Ðộ: 2,843,391
Philippines: 2,555,923
Việt Nam: 1,548,449
Hàn Quốc: 1,423,784
Nhật Bản: 763,325
Các sắc dân Á Châu khác: 2,192,151

Khoảng 3/4 người Mỹ gốc Việt tập trung ở 10 tiểu bang; với tiểu bang đông nhất là California. Ðứng thứ nhì là Texas, thứ ba là tiểu bang Washington.
Description:
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/135439-chart_04-400.jpg
Di dân gốc Việt chiếm hơn 9% tổng di dân gốc Á tại Hoa Kỳ. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)
Mười tiểu bang đông dân gốc Việt nhất bao gồm: California (581,000); Texas (210,000); Washington (67,000); Florida (58,000); Virginia (54,000); Georgia (45,000); Massachusetts (43,000); Pennsylvania (39,000); New York (29,000); và Louisiana (28,000).

Cộng Ðồng Gốc Việt, 2000-2010
Năm 2000: 1,122,528 người
Năm 2010: 1,548,449 người
Tăng: 425,921 người (37.9%)

Tính theo các khu vực đô thị (metropolitan area), vùng Los Angeles - Long Beach - Santa Ana đông dân Việt Nam nhất, với 271,000 người. Kế đến là vùng San Jose - Sunnyvale - Santa Clara với 126,000 người; vùng Houston - Sugar Land - Baytown với 104,000 người; Dallas - Fort Worth - Arlington với 72,000 người; và Washington DC - Arlington - Alexandria 59,000 người.
Description:
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/135439-chart_05-400.jpg
Trong 10 năm, từ 2000 đến 2010, cộng đồng gốc Việt tăng 37.9% dân số, thấp hơn các sắc dân gốc Á khác. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)
Xếp theo thành phố, và theo con số tuyệt đối, các thành phố đông dân gốc Việt nhất bao gồm: San Jose 59,000 người; Garden Grove 47,000 người; Westminster 36,000 người; Houston 35,000 người; và San Diego 33,000.
Tuy nhiên, xếp theo tỷ lệ gốc Việt so với cư dân toàn thành phố, “vương miện” được trao cho thị trấn Midway, California, với 41% cư dân gốc Việt (Tuy nhiên, thị trấn Midway không có quy chế thành phố, và vì thế không có cơ cấu chính quyền riêng).

10 Tiểu Bang Ðông Người Việt Nhất
California: 581,946 (tăng 30% trong 10 năm)
Texas: 210,913 (tăng 56% trong 10 năm)
Washington: 66,575 (tăng 44% trong 10 năm)
Florida: 58,470 (tăng 76% trong 10 năm)
Virginia: 53,529 (tăng 43% trong 10 năm)
Georgia: 45,263 (tăng 56% trong 10 năm)
Massachusetts: 42,915 (tăng 26% trong 10 năm)
Pennsylvania: 39,008 (tăng 30% trong 10 năm)
New York: 28,764 (tăng 21% trong 10 năm)
Louisiana: 28,352 (tăng 16% trong 10 năm)

Ðứng sau thị trấn Midway là các thành phố khác, cũng thuộc California: Westminster (40%); Garden Grove (27.7%); Fountain Valley (21%).
Thành phố Morrow City, thuộc tiểu bang Georgia, có tỷ lệ gốc Việt khá cao: 20%.
Description:
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/135439-chart_01-400.jpg
Cứ 100 người gốc Việt tại Mỹ, có 12 người sống ở mức nghèo khó. Theo tiêu chuẩn này, cộng đồng gốc Việt chỉ “giàu” hơn 2 cộng đồng gốc Á khác, là Hmong và Cambodia. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)
Từ thập niên 1970s đến thập niên 1990s, dân số gốc Việt tại Hoa Kỳ tăng nhanh đáng kể, một phần do làn sóng di dân cao. Kể từ năm 2000, nhịp gia tăng dân số gốc Việt bắt đầu chậm lại, ở mức 38%.
Census 2010 trích dẫn thống kê của American Community Survey (ACS) phổ biến năm 2007, cho biết, so với các cộng đồng khác, di dân gốc Việt có tỷ lệ “sử dụng tiếng mẹ đẻ ở nhà” tăng mạnh nhất (511%), tính từ năm 1980 đến 2007.
Về tuổi tác, ACS cho biết tuổi trung vị của cộng đồng gốc Việt là 35.4, so với 35.7 của các sắc dân Á Châu, và 36.8 của toàn quốc Hoa Kỳ.

10 Thành Phố Ðông Người Việt Nhất
San Jose, California: 100,486
Garden Grove, California: 47,331
Westminster, California: 36,058
Houston, Texas: 34,838
San Diego, California: 33,149
Santa Ana, California: 23,167
Los Angeles, California: 19,969
Anaheim, California: 14,706
Philadelphia, Pennsylvania: 14,431
New York city, New York: 13,387

Trong tổng số gần 1.6 triệu người Việt hiện đang ở Mỹ, giới trẻ 17 tuổi trở xuống chiếm 26%, so với 44% của cộng đồng người Hmong, 28% của người Cam Bốt, và 27% của người Lào, và so với 20% của toàn quốc.
Người gốc Việt trên 65 tuổi tại Hoa Kỳ chiếm 8% so với cộng đồng già nhất là Nhật Bản (22%) và so với 13% trên toàn quốc.
Về gia cảnh, 57% người gốc Việt có gia đình, 31% chưa bao giờ lập gia đình, khoảng 7% ly dị, 1% ly thân, và 4% góa vợ (hoặc chồng).
Description:
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/135439-chart_02-400.jpg
22% người Mỹ gốc Việt được sinh ra tại Mỹ; số còn lại sinh ra bên ngoài nước Mỹ. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)
Về mặt kinh tế, số gia đình gốc Việt sống dưới mức nghèo khó chiếm 12%, so với 25% của người Hmong (nghèo nhất), và 10% của toàn quốc. Mức nghèo khó năm 2011 do chính quyền liên bang ấn định cho một gia đình 4 người là lợi tức dưới $22,350 một năm.
Gia đình trung bình của người Việt có 4 người và lợi tức trung bình $59,000 một năm so với $47,000 của người Hmong (thấp nhất), $99,000 của người Ấn Ðộ (cao nhất), và $62,000 của toàn quốc.
Tỷ lệ người gốc Việt trên 16 tuổi có công ăn việc làm là 67%, đứng hàng thứ Tư trong cộng đồng di dân Á Châu, vào nhỉnh hơn tỷ lệ toàn quốc, 65%.
Khoảng 65% gia đình gốc Việt làm chủ căn nhà mình đang ở, (ngang với cộng đồng người Philippines) so với 48% của người Hmong và 66% của toàn quốc.
Census 2010 trích dẫn bản tường trình của Survey of Business Owners (SOB) công bố năm 2007 cho biết số cơ sở thương mại do người Việt làm chủ tăng 56% từ năm 2002 đến nay so với 40% của các sắc dân Á Châu khác.
Cũng theo bản tường trình năm 2007 của SOB, số cơ sở thương mại của người gốc Việt lên tới 229,000, tương đương 15% của toàn bộ di dân gốc Á, với doanh thu $28.8 tỷ một năm.
Gần 30,000 trong số những cơ sở thương mại này là các công ty tạo ra công ăn việc làm, mướn tổng cộng 166 ngàn nhân viên, với doanh thu $21 tỷ trong năm 2007, tăng 82% so với năm 2002.
Gần 67% cơ sở thương mại của người gốc Việt thuộc ngành bảo trì, sửa chữa, dịch vụ cá nhân, giặt giũ và bán lẻ, chiếm con số cao nhất trong nhóm di dân Á Châu.
Về việc thực thi quyền công dân, nhìn chung người Mỹ gốc Á ghi danh đi bầu và thực sự đi bầu ít hơn người dân bản xứ.
Census 2010 trích thống kê của Current Population Survey (CPS) công bố năm 2008 cho thấy tỷ lệ di dân gốc Á ở tuổi đi bầu khá thấp, ở mức 55% so với 71% của toàn quốc.
Ðã thế, chỉ có 48% người ở tuổi này ghi danh đi bầu, so với 64% của toàn quốc.
Cũng theo tài liệu của CPS, người nhập tịch Hoa Kỳ gốc Á ghi danh đi bầu đông hơn những người gốc Á sinh ra ở Mỹ.
Description:
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/135439-chart_03-400.jpg
Trong 5 năm, từ 2002 đến 2007, cộng đồng doanh nghiệp gốc Việt tại Mỹ có thu nhập cao hơn. (Hình: Khoa Vũ/Người Việt)
Còn theo dữ liệu của ACS cho thời gian từ 2007 đến 2009, khoảng 68% di dân gốc Việt được sinh ra ở ngoài đất nước Hoa Kỳ, trong đó 73% đã có quốc tịch Mỹ.
Nhìn một cách tổng quát, cộng đồng gốc Việt tại Hoa Kỳ tương đối trẻ, xét về tuổi (35.4), tỷ lệ giới trẻ từ 17 tuổi trở xuống (26%), và tỷ lệ người 65 tuổi trở lên (8%), so với các con số tương ứng 36.8, 20% và 13% cho toàn quốc.
Với khuynh hướng gia đình, người gốc Việt có tỷ lệ ly dị 6%, thấp hơn tỷ lệ chung toàn quốc (11%), và đơn vị gia đình (3.9 người/gia đình) cũng đông hơn tỷ số trung bình toàn quốc, 3.1.
Về đời sống kinh tế, cộng đồng gốc Việt có mức lợi tức trung bình hàng năm hơi thấp ($59,000) so với $62,000 toàn quốc. Tuy nhiên, tỷ lệ người gốc Việt làm chủ căn nhà mình đang ở là 65% so với 66% của toàn quốc cho thấy tính cần kiệm và quan điểm “an cư lạc nghiệp” của cộng đồng chúng ta.